Hiển thị các bài đăng có nhãn Vật liệu XD. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vật liệu XD. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 21 tháng 9, 2012

Dùng thảm đúng cách


thời tiết chuyển mùa cũng là lúc nhiều gia đình mang các loại thảm ra sử dụng. Không chỉ giúp giữ nhiệt, giảm tiếng ồn, giảm độ nguy hiểm khi trẻ hoạt động, thảm còn giúp tạo phong cách, làm điểm nhấn cho không gian nội thất.
Đa số thảm trên thị trường hiện được nhập từ Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, Singapore… Thảm được kết cấu theo dạng cuộn hoặc tấm. Thảm cuộn có khổ 3,66m hoặc 4m, phù hợp để lót toàn bộ diện tích sàn. Dạng tấm rời với kích cỡ 1,6m x 2,3m hoặc 2m x 3m thích hợp để trang trí phòng khách hoặc phòng ngủ.
Chất liệu thảm thường là lông cừu, len, sợi nhân tạo, ni lông, olefin… Đắt tiền nhất là những tấm thảm bằng lông cừu, giá khoảng 10 triệu đ/tấm trở lên, với kích cỡ 1,6m x 2,3m hoặc 2m x 3m, hoặc 2 triệu đ/m2. Thảm len được ưa chuộng hơn cả vì đa dạng màu sắc, mẫu mã và có độ bền cao. Thảm len dạng tấm dao động từ 4 - 20 triệu đồng, dạng cuộn từ 0,5 - 1,2 triệu đ/m2. Thảm bằng lục bình hay cói cũng được chọn lựa cho các không gian nhà có nội thất bằng gỗ. Giá loại thảm này khá mềm, khoảng 20 nghìn đ/m2…
Thảm phù hợp cho những không gian khép kín, ít bụi. Không nên sử dụng thảm trong các không gian ẩm thấp như nhà bếp, gác xép hoặc trong phòng ăn vì thảm dễ ẩm mốc và khó vệ sinh. Mặc dù nhiều loại thảm có tính năng chống ẩm, chống cháy, nhưng cũng cần tránh nước, tránh lửa ở khu vực trải thảm.
Nên chọn thảm chất liệu ni lông cho những nơi có sự đi lại và cọ xát nhiều. Khi mua thảm chất liệu mây tre lá, nên chọn loại đã tẩm sấy và xử lý mối mọt.
Thảm nhanh bị hư, xuống cấp là do sự cọ xát hoặc bị ẩm mốc. Do đó, cần hạn chế tối đa việc di chuyển đồ vật trên thảm, đặc biệt là những đồ vật có góc cạnh, đồng thời tránh đổ nước lên thảm. Nếu lỡ bị đổ nước hay những loại chất lỏng có màu lên thảm, cần phải khắc phục ngay bằng cách sấy, giặt khô bằng chất tẩy rửa chuyên dụng.
Thảm là vật rất bám bụi nên cần thường xuyên hút bụi, ít nhất là mỗi tuần. Sau 3 - 6 tháng, nên giặt thảm một lần, không giặt bằng bột giặt thông thường. Đối với thảm lông cừu, chỉ nên giặt tay bằng dầu gội đầu hoặc sữa tắm.

Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2012

Bộ Công Thương: Tháo gỡ “đầu ra” cho ngành thép


Sang tháng 7/2012 sản lượng sản xuất thép của Tổng công ty Thép Việt Nam (VnSteel) giảm 13% so với tháng trước, giá bán và chiết khấu giảm thêm từ 300 đến 900 đồng/kg, thậm chí đến 1.200 đồng/kg nhưng vẫn rất khó tiêu thụ. Lượng thép tồn kho của toàn ngành lên tới 120,8%.
Tại cuộc họp giữa Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng và  ba đơn vị: Tổng công ty Thép, Tập đoàn Hóa chất và Tổng công ty Giấy nhằm tiếp tục giải quyết khó khăn cho sản xuất- kinh doanh, ông Lê Phú Hưng- Tổng Giám đốc Tổng công ty Thép Việt Nam (VnSteel)- cho biết: 6 tháng đầu năm, sản lượng và tiêu thụ thép các loại của Tổng công ty Thép Việt Nam (VnSteel) đều sụt giảm do thị trường bất động sản “đóng băng”, các dự án lớn bị cắt giảm.
Nếu so với 6 tháng 2011, sản xuất thép thành phẩm trong 6 tháng 2012 đạt hơn 1,3 triệu tấn, giảm 6%; tiêu thụ thép đạt 1,289 triệu tấn 2% so với cùng kỳ. Kết thúc 6 tháng đầu năm 2012, toàn bộ các đơn vị của VnSteel hoàn thành đạt dưới mức 48% kế hoạch sản xuất, tiêu thụ; lợi nhuận của hầu hết các đơn vị đều giảm sút, toàn tổng công ty có 13/41 đơn vị lỗ vốn.
Tính đến thời điểm tháng 7, toàn tổng công ty đã có 3.000 lao động phải nghỉ việc, trong đó 900 lao động nghỉ việc trọn tháng, số còn lại phải nghỉ luân phiên do nhiều nhà máy sản xuất cầm chừng, chỉ chạy 40-45%, thậm chí 30% công suất. Các nhà máy Thép Miền Nam, Tấm lá Phú Mỹ, Gang thép Thái Nguyên, Nhà Bè... phải ngừng sản xuất trong nhiều ngày để giảm sản lượng.
Trong lĩnh vực đầu tư, một loạt các dự án thép trọng điểm của VnSteel như dự án Gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2, dự án nhà máy thép tấm cán nóng công suất 2 triệu tấn/năm, dự án thép Lào Cai, dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê cũng gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều dự án phải tạm hoãn, ngừng triển khai do chủ đầu tư gặp khó khăn, không thu xếp được vốn.
Để tháo gỡ “đầu ra” cho ngành thép, Tổng công ty Thép Việt Nam kiến nghị Chính phủ cần có chính sách kích cầu đối với ngành xây dựng, đẩy nhanh giải ngân vốn các dự án đầu tư nhằm giúp DN tăng lượng tiêu thụ, tăng công suất máy móc và giảm tồn kho.
Chính phủ và các cơ quan quản lý cần có chính sách khuyến khích XK sản phẩm thép (thép xây dựng, thép cán nguội...) sang các nước ASEAN; xem xét giảm thuế giá trị gia tăng nhằm kích thích tiêu dùng. Có các biện pháp triệt để thực hiện quy hoạch phát triển ngành thép, không để xảy ra việc cung vượt cầu quá nhiều gây nên cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa...
Kích cầu cho ngành thép là giải pháp chính
Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng chỉ đạo các cục, vụ, viện chức năng trong Bộ Công Thương đưa ra phương án giải quyết cụ thể đối với từng kiến nghị của DN cũng như Tổng công ty Thép nói riêng. Bộ trưởng nhấn mạnh: “Các DN cũng đồng thời phối hợp với các bộ, ngành để cùng tháo gỡ khó khăn”.
Bà Phan Thị Diệu Hà- Vụ phó Vụ Xuát nhập khẩu- cho biết, vụ sẽ làm việc với Tổng cục Hải quan, Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam để tăng cường kiểm tra kiểm soát CO thép nhập khẩu vào Việt Nam để bảo vệ sản xuất trong nước và giữ uy tín cho sản phẩm Việt Nam.
Để đẩy mạnh tiêu thụ thép, theo Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa, thép xây dựng nằm trong mặt hành thiết yếu, hệ thống phân phối của Tổng công ty Thép lại rất mạnh, vì thế tổng công ty cần tiếp tục đi sâu vào các chương trình hạ tầng của nông thôn như làm đường bê tông cốt thép hay liên kết với các Cở Công Thương để kết nối đưa hàng về tiêu thụ. Bộ Thương sẵn sàng hỗ trợ kết nối cho DN và địa phương.
Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cho biết, sẽ xem xét đề xuất quy định sản phẩm thép có nhãn mác cho người sử dụng phân biệt, hiện nay nhiều DN sản xuất thép đưa ra thị trường không có nhãn mác. Các DN cần phối hợp hỗ trợ lẫn nhau, nếu sản phẩm đầu ra của DN này là đầu vào của DN kia thì bắt buộc các DN trong ngành phải ưu tiên sử dụng.
Tới đây, Bộ Công Thương sẽ tổ chức ký giao ước giữa các đơn vị trong ngành, nhằm đẩy mạnh việc tiêu dùng sản phẩm của các DN trong ngành, góp phần giảm tồn kho, đồng thời phát động mạnh mẽ hơn nữa cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam".
Theo Báo Công thương

Lung linh gạch kính


Không chỉ đơn thuần để lấy sáng, các loại gạch kính đang được sử dụng ngày càng phổ biến trên thị trường còn sắm vai trò trang trí ấn tượng cho các không gian nội thất.
Để tăng hiệu quả lấy sáng cho các không gian nội thất nhưng vẫn đảm bảo sự bền vững và tạo thêm điểm nhấn cho từng công trình, nhiều mảng kính thông thường ở các ngôi nhà đang được thay thế dần bằng gạch kính. Theo đó, những mảng gạch kính có thể dùng được thay thế cho bất kỳ vách ngăn nào trong nhà, kể cả những nơi chịu lực như sàn thậm chí cả mái nhà…
Lung linh gach kinhLung linh gach kinh
Giải pháp lấy sáng cho phòng tắm qua “cửa sổ” gạch kính làm cho ánh sáng được chan hòa hơn. Ánh sáng tự nhiên tràn ngập không gian nhưng vẫn tạo nên sự ngăn cách cần thiết… Ảnh: T.L.
Không chỉ cung cấp ánh sáng tự nhiên, với nhiều chất liệu và mẫu mã khác nhau, gạch kính còn thích hợp dùng làm các mảng trang trí không kém phần ấn tượng.
Lung linh gach kinh
Một không gian sống hiện đại chan hòa ánh sáng với mảng tường xây bằng gạch kính đóng vai trò là điểm nhấn trong phòng khách. Ảnh: CTV
Có độ dày cần thiết và cấu tạo rỗng bên trong, nên dù trong hay mờ, cùng với lớp ánh sáng xuyên qua gạch kínhcũng tạo nên một vẻ đẹp lung linh và sang trọng. Với những mảng tường được “xây” lên từ những ô vuông gạch kính, bạn cũng có thể biến hóa thành nhiều mảng ca-rô trang trí thú vị…
Lung linh gach kinhLung linh gach kinh
Ánh sáng tràn ngập qua bức tường gạch kính tạo sự thông thoáng cần thiết cho buồng thang. Ảnh: T.LMảng tường gạch kính làm nhẹ lại các hình khối và vách ngăn trong nhà. Ảnh: T.L
Với những không gian sống bó hẹp, những bức vách bằng gạch kính trong suốt sẽ tạo nên cảm giác nhẹ nhàng hơn cho các hình khối, không làm vướng bận các tầm nhìn cũng như làm nên những vách ngăn cởi mở hiện đại. Tuy được ngăn chia nhưng các không gian trong nhà vẫn có mối liên hệ tương đối với nhau bằng ánh sáng.
Lung linh gach kinh
Bức tường gách kính ngăn cách giữa phòng tắm và phòng ngủ là một giải pháp độc đáo và hiện đại đang được ưa chuộng trong nhà ở hiện nay. Tuy có sự ngăn cách nhưng hai không gian này vẫn có mối liên hệ tương đối với nhau bằng ánh sáng. Ảnh: T.L

Vật liệu xây dựng theo ngũ hành


Vật liệu xây dựng có khả năng ảnh hưởng đến con người qua các giác quan. Chẳng hạn màu sắc tác động lên thị giác, các bề mặt vật liệu lại tác động lên khứu giác… Do đó, sự an lành của gia chủ cũng phụ thuộc vào vật liệu xây dựng.

Vật liệu theo phong thủy

Lựa chọn và sử dụng vật liệu phù hợp với mục đích cũng như vị trí sẽ giúp không gian sống của bạn trở nên hoàn hảo hơn.
Tác động của các loại vật liệu lên cuộc sống
Mỗi loại vật liệu xung quanh cuộc sống của chúng ta đều chưa đựng một năng lượng riêng. Thuật Phong thủyquan niệm mọi vật chất đều mang những tính chất của ngũ hành. Chúng ảnh hưởng tới khí của khu vực chúng ta đang sống.
Những vật liệu có bề mặt sáng bóng như nhôm, kính mang tính dương, giúp khí di chuyển nhanh hơn. Ngược lại, bề mặt nhám, thô, sậm lại có tác dụng làm chậm dòng khí. Do vậy, đối với khu vực cần sự năng động như phòng làm việc, phòng khách, sử dụng chất liệu hiện đại như nhôm, inox… mang tính dương là sự lựa chọn phù hợp.
Với những căn phòng hay khu vực cần tới sự yên tĩnh, thư thái như phòng ngủ, phòng giải trí, nên sử dụng các vật liệu mang tính âm, xuất xứ từ thiên nhiên như gỗ, mây, tre, lục bình… Những vật liệu này sẽ cho bạn cảm giác tĩnh tâm, yên bình và tốt cho sức khỏe.
Một vài cách lựa chọn vật liệu theo ngũ hành
Gỗ thuộc hành Mộc. Các loại gỗ có bề mặt nhẵn bóng sẽ giúp khí lưu chuyển nhanh, nên dùng lát sàn nhà. Các loại đá ốp tường thuộc hành Thổ. Chúng mang lại cảm giác vững chắc, thích hợp để lát cầu thang, mặt bếp nấu. Thép, inox có bề mặt bóng sẽ làm tăng tốc độ lưu chuyển khí. Nên dùng kim loại cho khu vực ứ đọng như bếp hoặc nhà tắm.

Sơ lược về lịch sử phát triển ngành của xi măng


Từ xa xưa, con người đã biết dùng những vật liệu đơn sơ như đất sét, đất bùn nhào rác, dăm gỗ, cỏ khô băm …để làm gạch, đắp tường, dựng vách cho chỗ trú ngụ của mình.
- Có thể tóm lược các bước hình thành xi măng như sau:
* Người Ai Cập đã dùng vôi tôi làm vật liệu chính.
* Người Hy Lạp trôn thêm vào vôi đất núi lửa ở đảo Santorin, hỗn hợp này đã được các nhà xây dựng thời đó ưu ái nhiều năm.
lịch sử xi măng
lịch sử xi măng
* Người La Mã thêm vào loại tro – đất núi lửa Vésuve miền Puzzolles. Về sau này, phún – xuất – thạch núi lửa được dùng làm một loại phụ gia hoạt tính chịu cách nhiệt và cách âm, và trở thành danh từ chung “Pozzolana” (Anh), “Pouzzolane” (Pháp)
* Vào năm 1750, kỹ sư Smeaton người Anh, nhận nhiệm vụ xây dựng ngọn hải đăng Eddystone vùng Cornuailles. Ông đã thử nghiệm dùng lần lượt các loại vật liệu như thạch cao, đá vôi, đá phún xuất… Và ông khám phá ra rằng loại tốt nhất đó là hỗn hợp nung giữa đá vôi và đất sét.
* Hơn 60 năm sau, 1812, một người Pháp tên Louis Vicat hoàn chỉnh điều khám phá của Smeaton, bằng cách xác định vai trò và tỷ lệ đất sét trong hỗn hợp vôi nung nói trên. Và thành quả của ông là bước quyết định ra công thức chế tạo xi măng sau này.
* Ít năm sau, 1724, một người Anh tên Joseph Aspdin lấy bằng sáng chế xi măng (bởi từ latinh Caementum : chất kết dính), trên cơ sở nung một hỗn hợp 3 phần đá vôi + 1 đất sét
* Chưa hết, 20 năm sau, Isaac Charles Johnson đẩy thêm một bước nữa bằng cách nâng cao nhiệt độ nung tới mức làm nóng chảy một phần nguyên liệu trước khi kết khối thành “clinker”.
Lịch sử xi mănglịch sử xi măng
lịch sử xi măng
Từ đây, như chúng ta biết, đã bùng nổ hằng loạt các nhà máy lớn nhỏ với nhiều kiểu lò nung tính năng khác nhau: xi măng đã làm một cuộc cách mạng trong lĩnh vực xây dựng.

Vật liệu độc đáo từ rác thải nhựa


vật liệu xây dựng mới
Nhằm góp phần bảo vệ môi trường, xây dựng và thiết kế bền vững, tập đoàn Kiến trúc WHIM (trụ sở tại Netherland) có sáng kiến về một dự án tại đảo Gyre – phía Bắc Thái Bình Dương.
Dự án này là khu dành cho khoảng nửa triệu người sinh sống trên đó. Dự án được thiết kế thành một hòn đảo nổi, từ nhữngvật liệu chế tạo từ khoảng 44.000 tấn rác thải từ nhựa. Hiện nay, vật liệu này đã được chuyển đến đảo.
Hòn đảo được đặt tên là “Hòn đảo Tái sử dụng” bởi nó liên quan đến quá trình chế tạo tổng hợp biến rác thải từ nhựa thành vật liệu xây dựng hiệu quả. Các phương pháp sau được áp dụng: thu thập rác thải từ Biển Thái Bình dương; phân loại thành từng nhóm theo tính chất rác thải; xử lý nhiệt rác thải; tái sản xuất thành vật liệu xây dựng chính; tiến hành công cuộc xây dựng trên đảo.
tư vấn vật liệu xây dựng
“Hòn đảo Tái sử dụng” gồm tổ hợp khu dân cư nhà ở, khu nông trang, bãi biễn và các điểm vui chơi giải trí, phục vụ du lịch. Đây còn là ý tưởng sẽ trở thành khu du lịch sinh thái độc đáo, thu hút du khách trên toàn thế giới. Hiện đảo đang xử lý khối lượng rác thải khổng lồ thải ra trên đại dương – và hãy tưởng tưởng xem với lượng rác thải nhựa khổng lồ này sẽ gây ra tác hại gì cho môi trường chúng ta?
Rong biển cũng đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của “Hòn đảo Tái sử dụng” này khi các nhà quy hoạch còn thiết kế cả khu nuôi trồng rong biển để tăng gia khối lượng môi trường thức ăn sạch cho các loài cá, đồng thời còn đóng vai trò như là nơi dùng để hấp thụ các chất vô cơ. Sản phẩm này sẽ được dùng làm thực phẩm, nguyên liệu sinh học, phân bón, thuốc chữa bệnh và hấp thụ CO2.
vật liệu mới
Mục đích và ý đồ chủ đạo của dự án chính là: Làm sạch đại dương; tạo ra một hòn đảo mới; xây dựng một môi trường sống bền vững dựa trên vật liệu xây dựng độc đáo. Đặc tính chính của hòn đảo bao gồm:
1. Nhận biết được khối lượng rác thải từ nhựa vào Đại dương là khổng lồ và gây tác hại lớn cho thiên nhiên và con người. Hòn đảo ra đời sẽ góp phần bảo vệ môi trường bằng việc tái chế rác thải từ nhựa thành vật liệu xây dựng. Việc thu thập khối lượng rác thải khổng lồ trên Đại dương thu hút nhiều sự quan tâm của thế giới, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia môi trường, kiến trúc sư và các nhà quản lý;
2. Hòn đảo được tạo nên cũng chính là khu cư trú, sinh sống giá trị và có ý nghĩa to lớn trong việc tạo nên môi trường sinh sống an toàn cho con người;
3. Đây là hòn đảo được thiết kế để phục vụ mục đích phát triển đô thị. Ngày nay, khi trái đất ngày càng bị co hẹp bởi thiên tai sạt lở, mất dần khối lượng đất liền, vì vậy việc ra đời hòn đảo này sẽ phục vụ và đáp ứng được khối lượng dân số đô thị ngày càng gia tăng không ngừng ở khắp mọi nơi;
4. Hòn đảo được xây dựng như là một môi trường sống lành mạnh, tươi tốt dựa trên lý thuyết tôn trọng và bảo tồn thiên nhiên, áp dụng cả phương pháp chế tạo nhà vệ sinh tạo ra phân bón tại chỗ;
vật liệu xây dựng từ rác thải

5.
 Đây cũng là nơi sinh sống mang tính tự cung, tự cấp, không quá phụ thuộc vào nguồn cung từ các khu vực khác, bao gồm cả vấn đề năng lượng và thực phẩm;
6. Hòn đảo hoàn toàn mang tính sinh thái, không gây ra bất cứ sự ô nhiễm nào hoặc tác động xấu nào cho thế giới con người và thiên nhiên. Đây là hòn đảo hòa quyện cùng thiên nhiên;
7. Quy mô của hòn đảo nổi này tương đương với quy mô của đảo Hawaii;
8. Vị trí của Đại dương Bắc Gyre là vị trí thuận lợi để tạo nên hòn đảo này, đồng thời cũng là nơi mà tập trung nhiều nhất nguồn rác thải nên giảm thiểu được đối đa chi phí vận chuyển.

Gạch siêu nhẹ chống cháy


Bằng nguyên liệu là đất sét và phụ gia mùn cưa, mạt gỗ, các chuyên gia của Đại học Xây dựng Hà Nội đã chế tạo thành công gạch có thể cách nhiệt, chống cháy và chỉ nặng bằng 1/3 gạch thường, thích hợp xây nhà cao tầng.
Gạch siêu nhẹ chống cháy
Tiến sĩ Đức đang giới thiệu viên gốm xốp cách nhiệt được làm từ đất sét, tro, mùn cưa
PGS Vũ Minh Đức, trưởng khoa Vật liệu xây dựng, chủ nhiệm đề tài cho biết, trước đây để sản xuất gạch siêu nhẹ, người ta phải sử dụng một nguyên liệu đặc biệt là diatomit – một loại khoáng chất tự nhiên. Tuy nhiên, nguyên liệu này không phổ biến. Do vậy nhóm nghiên cứu đã thay thế bằng các phụ gia hữu cơ, phế thải từ mùn cưa, mạt gỗ hoặc tro nhiệt điện.
Do rất nhẹ (chỉ nặng 700 – 1.000 kg/m2) nên gạch này thích hợp cho các công trình cao tầng (từ tầng 13 trở lên), giúp giảm đáng kể tải trọng công trình và chi phí xây dựng. Cấu trúc xốp, nhỏ, kín nên có khả năng cách nhiệt tốt.
Gạch siêu nhẹ chống cháy
Loại gạch này rất thích hợp trong việc xây những công trình cao tầng bởi đặc điểm siêu nhẹ cũng như tính năng cách nhiệt
Hiện các nhà khoa học đã thay đổi công nghệ ướt bằng công nghệ có độ ẩm thấp hơn, do vậy không phải qua công đoạn sấy, tiết kiệm được than, củi, điện. Cũng theo đánh giá của nhóm, công nghệ này tiến bộ hơn nhiều so với gạch Tuynel. Một viên gạch nhẹ ước tính có giá 1.500 đồng, rẻ bằng 70% hàng nhập ngoại.
Tiến sĩ Đức cũng cho biết công nghệ sản xuất đã được hoàn thiện và có thể đạt công suất từ 7 đến 15 triệu viên một năm. Nhóm tác giả đang tìm kiếm đối tác để có thể đưa vào sản xuất đại trà.

Vật liêu không nung


ND – Ngày 29-8-2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
121/2008/QÐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể vật liệu xây dựng (VLXD) Việt Nam đến năm 2020, theo đó sẽ tăng dần tỷ lệ sử dụng VLXD không nung từ 10 đến 15% năm 2010 lên 30 đến 40% năm 2020. Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ sử dụng VLXD không nung còn thấp, cần có những giải pháp đồng bộ và xây dựng chương trình cụ thể phát triển loại vật liệu này.
Vật liệu xây dựng mới
Ưu điểm của vật liệu xây không nung
Ðể sản xuất một tỷ viên gạch đất sét nung có kích thước tiêu chuẩn sẽ tiêu tốn khoảng 1.500.000 m3 đất sét, tương đương 75 ha đất nông nghiệp (độ sâu khai thác là 2 m) và 150.000 tấn than, đồng thời thải ra khoảng 0,57 triệu tấn khí CO2 – gây hiệu ứng nhà kính và các khí thải độc hại khác gây ô nhiễm môi trường. Năm 2020 nhu cầu vật liệu xây khoảng 42 tỷ viên quy tiêu chuẩn, nếu đáp ứng nhu cầu này bằng gạch đất sét nung sẽ tiêu tốn khoảng 57 đến 60 triệu m3 đất sét, tương đương 2.800 đến 3.000 ha đất nông nghiệp. Ðồng thời tiêu tốn 5,3 đến 5,6 triệu tấn than, thải ra khoảng 17 triệu tấn khí CO2.
Việc thay thế gạch đất sét nung bằng vật liệu xây không nung (VLXKN) sẽ đem lại nhiều hiệu quả tích cực về các mặt kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường đồng thời hạn chế được các tác động bất lợi nêu trên, góp phần đáng kể tiêu thụ một lượng phế thải của một số ngành khác như: Nhiệt điện, luyện kim, khai khoáng…, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và các chi phí xử lý phế thải. Theo quy hoạch phát triển ngành điện và luyện kim, lượng tro, xỉ phát thải hằng năm tăng nhanh, dự kiến đến năm 2020 sẽ khoảng 45 triệu tấn và sẽ cần khoảng 1.100 ha mặt bằng để chứa phế thải. Việc sử dụng VLXKN loại nhẹ còn giảm tải trọng công trình xây dựng, do đó tiết kiệm vật liệu móng và khung chịu lực, đẩy nhanh tiến độ thi công. Mặt khác,gạch nhẹ với tính cách nhiệt cao còn góp phần tích cực vào Chương trình tiết kiệm năng lượng.
Một số vấn đề cần khắc phục
Cả nước hiện nay có khoảng 800 cơ sở sản xuất VLXKN, với tổng công suất là 1.600 triệu viên quy tiêu chuẩn/năm, chiếm 8% tổng số vật liệu xây. Trong đó có 31 dây chuyền công suất vừa và lớn với tổng công suất 552 triệu viên quy tiêu chuẩn/năm (chiếm 33% tổng công suất VLXKN). Số còn lại (67%) là các dây chuyền có công suất nhỏ, quy mô hộ gia đình. VLXKN tại Việt Nam hiện nay được chia thành ba loại: gạch xi-măng, chiếm hơn 80% với khoảng 800 dây chuyền sản xuất, hằng năm cung cấp 550 triệu viên gạch; gạch bê-tông nhẹ, chiếm khoảng 10%, bao gồm bê-tông bọt và bê-tông chưng áp với khoảng bảy dây chuyền và bảy dự án đang triển khai đầu tư tại một số tỉnh.
Những năm gần đây, VLXD không nung đã được sử dụng tại nhiều công trình lớn, chủ yếu của các doanh nghiệp nước ngoài, trong khi các doanh nghiệp trong nước lại chưa mặn mà. Theo số liệu khảo sát của Bộ Xây dựng, năm 2008 tỷ lệ sử dụng VLXD không nung trên phạm vi cả nước chỉ chiếm 8 đến 8,5% VLXD nói chung. Mặc dù tốc độ phát triển vật liệu không nung khá nhanh trong năm 2009 (10%) nhưng vẫn còn nhiều hạn chế do một số nguyên nhân: Quy cách gạch xây tại một số dây chuyền cũ có kích thước và khối lượng quá lớn, gây khó khăn trong thi công; Tài liệu hướng dẫn kỹ thuật, quy trình quy phạm thi công, nghiệm thu, định mức tiêu hao… chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ; Công tác tuyên truyền, phổ biến về ưu điểm của VLXD không nung chưa cao dẫn đến nhận thức sử dụng VLXD không nung trong đại bộ phận chủ đầu tư, nhà thầu, người dân còn hạn chế; Cơ chế, chính sách thúc đẩy sản xuất, sử dụng loại vật liệu mới này chỉ dừng ở mức khuyến khích, chưa thu hút được sự quan tâm khách hàng… Hơn nữa, do suất đầu tư sản xuất gạch không nung cao hơn từ 1,4 đến 1,5 lần gạch nung nên giá thành của một số loại VLXKN khá cao, khó cạnh tranh với các vật liệu truyền thống.
Cần giải pháp đồng bộ
VLXKN thay thế gạch nung là định hướng đúng, phù hợp điều kiện Việt Nam và xu hướng phát triển bền vững của thế giới, tuy nhiên cũng cần một chương trình và lộ trình cụ thể vì liên quan trực tiếp đến đời sống của nhiều bộ phận người dân nông thôn, đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương phải thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp. Theo Vụ trưởng Vụ vật liệu xây dựng, Bộ Xây dựng Lê Văn Tới, để phát triển VLXKN cần có những nhóm giải pháp đồng bộ.
Thứ nhất, về cơ chế chính sách, cần có những ưu đãi cụ thể, lâu dài về vốn (riêng nhu cầu vốn đầu tư phát triển sản xuất VLXKN của cả nước đến năm 2020 khoảng 5.200 đến 6.500 tỷ đồng), thuế, tiền thuê đất đối với các nhà sản xuất và từng loại VLXKN. Chẳng hạn ở Trung Quốc, các doanh nghiệp sản xuất VLXKN được miễn thuế suất VAT cho sản xuất gạch bê-tông nhẹ. Ðồng thời có chính sách quản lý chặt chẽ sản xuất gạch đất sét nung, hạn chế tối đa việc sử dụng đất nông nghiệp làm nguyên liệu sản xuất gạch đất sét nung. Ngoài ra, cần ban hành đồng bộ, chi tiết các chính sách ưu đãi sử dụng phế thải công nghiệp sản xuất VLXKN và bắt buộc sử dụng vật liệu mới vào các công trình xây dựng theo các tiêu chí cụ thể.
Thứ hai, từng bước hoàn thiện các giải pháp về khoa học kỹ thuật trong điều kiện Việt Nam, xây dựng, công bố và ban hành tiêu chuẩn liên quan đến thiết kế, thi công, nghiệm thu… các công trình sử dụng vật liệu không nung. Hiện nay, nước ta chưa có tài liệu chính thức và chuyên nghiệp về hướng dẫn thiết kế, thi công, định mức tiêu hao cho một đơn vị khối lượng xây dựng sử dụng vật liệu không nung. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến ưu điểm và ưu đãi đối với sản xuất và sử dụng VLXKN để từng bước thay đổi thói quen sử dụng gạch đất sét nung vẫn tồn tại trong quá trình xây dựng tại Việt Nam.
Ðể từng bước phát triển loại vật liệu này, Bộ Xây dựng hiện đang nghiên cứu, triển khai Chương trình “Phát triển VLXD không nung từng bước thay thế vật liệu nung”, đây là chương trình mang nhiều ý nghĩa, vừa bảo vệ tài nguyên, đất canh tác, đồng thời hạn chế ô nhiễm môi trường, tận dụng phế thải công nghiệp… Trong khi chờ Nhà nước ban hành quy chuẩn, quy phạm về VLXKN, các doanh nghiệp, đơn vị, cá nhân cần thay đổi nhận thức, hình thành thói quen sử dụng loại vật liệu mới này, qua đó thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất vật liệu không nung.

Than sinh học – nguyên liệu hoàn hảo để sản xuất xi măng


Với đặc điểm đơn giản và ít vấn đề phát sinh hơn các loại vật liệu thay thế khác, gỗ sấy là một loại nguyên liệu đầy hứa hẹn cho ngành công nghiệp sản xuất xi măng.
xi măng
Ngành công nghiệp sản xuất xi măng đang phải đối mặt với một vấn đề lớn về giảm thiểu khí thải như NOx, SOx, CO2… trong khi giá các loại vật liệu thay thế lại đang tăng.
Công ty Thermya, một công ty của Pháp chuyên thiết kế các hệ thống chuyển nguyên liệu sinh học sang các loại năng lượng carbon, đã xây dựng một hệ thống nung sấy với tên gọi Torsyd. Hệ thống này thông qua việc nung sấy các nguyên liệu sinh học để tập trung lại hết hàm lượng lignoxenluloza, kết quả cho ra một sản phẩm mới gọi là “than sinh học” – một loại nguyên liệu đầy triển vọng cho ngành sản xuất xi măng.
Ứng dụng công nghệ
Ngành xi măng truyền thống đã cố găng thay thế các nguyên liệu hoá thạch bằng các nguyên liệu thay thế khác ví dụ như thực phẩm gia súc RDF, Climafuel, bùn khô… Phương pháp này tuy giảm được thành phần sulphur, Chlorine hay các chất NOx trong thành phần xi măng nhưng lại yêu cầu chi phí sản xuất cao mà nguyên nhân chính là do chi phí cho việc tẩm sấy các loại nguyên liệu sinh học.
Than sinh học được đặt vào danh mục ưu tiên thứ 3 trong các nguyên liệu sản xuất xi măng. Than sinh học có thể sản xuất từ gỗ, lõi cây hoặc quả, hạt… nhìn chung là các loại sản phẩm lignoxenluloza.
Sản xuất than sinh học
Ngành xi măng truyền thống đã cố găng thay thế các nguyên liệu hoá thạch bằng các nguyên liệu thay thế khác ví dụ như thực phẩm gia súc RDF, Climafuel, bùn khô… Phương pháp này tuy giảm được thành phần sulphur, Chlorine hay các chất NOx trong thành phần xi măng nhưng lại yêu cầu chi phí sản xuất cao mà nguyên nhân chính là do chi phí cho việc tẩm sấy các loại nguyên liệu sinh học.
Than sinh học được đặt vào danh mục ưu tiên thứ 3 trong các nguyên liệu sản xuất xi măng. Than sinh học có thể sản xuất từ gỗ, lõi cây hoặc quả, hạt… nhìn chung là các loại sản phẩm lignoxenluloza.

Sản xuất than sinh học

Qui trình sản xuất than sinh học cũng là một yếu tố quan trọng không kém so với yếu tố nguyên liệu cấu thành. Gỗ có thể được sử dụng như một loại nguyên liệu sản xuất trực tiếp để sấy, nhiệt phân, sục carbon và khí hoá.
Qui trình sấy bao gồm các công đoạn nung vật liệu, làm ẩm, phân loại nền lò… Tuy nhiên phương pháp này yêu cầu một lượng nhiệt cao và thời gian xử lý chậm. Chính bởi lý do này, Torspyd đã được đưa ra như một giải pháp mới.
Giải pháp Torspyd được ứng dụng những công nghệ mới đơn giản hơn, tiết kiệm chi phí hơn. Công nghệ nungsấy vật liệu sinh học đặc biệt hiệu quả trong việc chuyển hoá các thành phần polyme hay lignoxenluloza. Đây cũng là một phương pháp tối ưu trong việc sản xuất chất đốt – hiệu quả và kinh tế với thành phần chủ đạo là CO2.

Ứng dụng công nghệ “đất hóa đá” sản xuất gạch không nung


Các nhà khoa học thuộc Trung tâm Ứng dụng khoa học và Chuyển giao công nghệ mới thuộc Viện Nghiên cứu hỗ trợ phát triển nông thôn đã ứng dụng thành công công nghệ “đất hóa đá” sản xuất gạch không nung.
DatHoaDa
Theo đó, tất cả nguyên liệu đất sẵn có ở mọi địa phương, trừ đất màu, đều có thể sử dụng để sản xuất loại gạch nói trên. Ngoài ra, các loại mạt đá vôi, cát, sạn, sỏi, rác thải rắn xây dựng, đất đào móng ao hồ, gạch vỡ, vôi vữa, than tổ ong nấu bếp, rác thải rắn công nghiệp (không độc), tro bay, xỉ than… kết hợp với phụ gia, qua lực ép tạo ra loại gạch không nung đạt tiêu chuẩn xây dựng. Phụ gia kết dính cũng được sản xuất trong nước trên cơ sở chiết xuất từ rỉ đường và một số cây cỏ có tinh dầu nên không độc hại… Các nhà khoa học cũng chế tạo thành công dây chuyền sản xuất gạch không nung công suất 9,5 và 11 triệu viên/năm, với giá thành khoảng 510 đồng/viên.
Kết quả kiểm tra gạch không nung sử dụng công nghệ “đất hóa đá” của Viện Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) cho thấy, gạch có độ nén đạt 120-130kg/cm2; độ uốn là 43kg/cm2; độ hút nước 8,8%-9,5% trong khi đó độ hút nước cho phép nhỏ hơn 18%. Công nghệ “đất hóa đá” cũng giải quyết triệt để bài toán môi trường do gạch không qua khâu nung đốt nên không có khói, không có rác thải, không có nước thải do sử dụng nguyên liệu bán khô…
Được biết, phát triển gạch không nung là chủ trương lớn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 1-8-2001 tại Quy hoạch tổng thể ngành vật liệu xây dựng (VLXD), với yêu cầu đưa gạch không nung thay thế gạch nung trong thi công các công trình xây dựng đạt tỷ lệ 25-30% trong năm 2010. Trong khi đó, tại Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, tỷ lệ VLXD không nung chiếm hơn 70% thị phần. Một số nước phát triển trên thế giới đang có xu hướng giảm gạch đất sét nung xuống còn 30-35% và tiến tới thay thế toàn bộ bằng gạch không nung. Việc nghiên cứu thành côngcông nghệ “đất hóa đá” sản xuất gạch không nung nêu trên không những là bước tiến của ngành VLXD Việt Nam mà còn góp phần giảm thiểu, tiến tới xóa bỏ các lò gạch thủ công gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn hiện nay.